This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhật Kí các chuyến đi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhật Kí các chuyến đi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Hòn Cau còn hơn cả... thiên đường

Có thể nói, du khách nào đến với hòn Cau ở Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cũng dễ bị choáng ngợp trước vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vỹ nhưng không kém phần lãng mạn của một thiên đường nhiệt đới giữa biển khơi.

Bờ biển của Hòn Cau vẫn còn rất sạch và hoang sơ.

Nơi đây, bờ cát trắng trải dài dọc theo dãy núi hình cánh cung, xen lẫn là hàng dừa và cây Phong Ba sừng sững chắn gió. Biển hòn Cau xanh bất tận, sâu lắng tiếng sóng vỗ rì rào vào bờ đá, từng làn sóng tung bọt trắng xóa, kéo du khách hòa vào không gian tuyệt vời.

Để đến được hòn Cau vào tháng bảy thật không dễ vì hòn Cau là một hòn đảo nhỏ nằm cách xa đảo chính Côn Sơn (người dân quen gọi là Côn Đảo). Nếu di chuyển bằng tàu thì mất gần hai giờ hoặc mất gần một giờ nếu di chuyển bằng ca nô.

Ngày nay, với nhiều người, hòn Cau có trước rồi mới đến... thiên đường. Nơi đây cảnh vật và thiên nhiên vẫn còn giữ được nét hoang sơ chưa bị tác động nhiều bởi con người. Do khoảng cách địa lý thuận lợi và được quy hoạch trong phân khu bảo tồn biển của Vườn Quốc gia Côn Đảo nên hệ sinh thái rừng và biển ở hòn Cau còn khá hoang sơ, biển rất sạch và trong.

Những rặng dừa xanh rì xen lẫn những cây phong ba trên đảo.

Sau hơn một giờ lênh đênh trên tàu tuần tra của Vườn Quốc gia Côn Đảo và gần nửa giờ để trung chuyển, cuối cùng chúng tôi cũng đã đặt chân lên hòn Cau. Cảm nhận của mọi người về không gian ở đây thật thú vị, cảm giác mệt mỏi và cái nắng gắt giữa trưa hè tháng 7 như dịu lại.

Thật thích thú khi đặt chân lên bãi cát trắng mịn và đắm mình dưới những rặng dừa xanh rì thẳng tắp tại trạm kiểm lâm hòn Cau, và xen lẫn là hàng cây Phong Ba với những chùm hoa khoe sắc mỗi khi hè về.

Chúng tôi cảm thấy như vừa lạc vào cõi thiên đường, bao lo toan mệt nhọc trong cuộc sống hối hả dường như tan biến, những bộn bề cuộc sống dường như đã ở sau lưng. Tất cả chỉ còn lại tiếng sóng rì rào, tiếng gió lao xao bên hàng cây và chúng tôi.

 Chuẩn bị bữa trưa với cá tươi mua từ chợ Côn Đảo.

Ai cũng háo hức mắc vội một chiếc võng "xí" chỗ đẹp dưới những tán cây Phong Ba để nghỉ trưa bên bờ biển. Phong cảnh nơi đây quá đẹp, quá nên thơ, dẫu biết đánh giấc ngay thì hơi phí nhưng buồn ngủ quá biết làm sao…

Tuy nhiên, cơn đói đã buộc một số thành viên phải xắn tay áo thổi lửa. Do hòn Cau nằm biệt lập hoàn toàn với khu dân cư, nên đoàn phải chuẩn bị trước thực phẩm, đồ nấu nướng từ thị trấn Côn Đảo. Cũng may, anh em kiểm lâm nơi đây rất hiếu khách và nhiệt tình, luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để đoàn chúng tôi cảm thấy thoải mái và thuận tiện nhất.

Sau bữa trưa đơn giản, đoàn tiếp tục cuộc hành trình băng rừng đến bãi Cô Vân (cách trạm kiểm lâm khoảng 2,5 km)  với địa hình đồi núi cheo leo. Hành trình này có vẻ hợp gu với những phượt thủ mê mạo hiểm.

Phần thưởng cho chuyến chinh phục này là một bờ biển hoang sơ, biệt lập với thế giới bên ngoài. Đứng trên bãi biển, chúng ta có cảm giác cả hòn đảo này là của riêng mình. Khi thả mình xuống dòng nước mát lạnh trong tận đáy, bạn dễ choáng ngợp khi ngắm nhìn từng vỉa san hô huyền ảo sắc màu, từng đàn cá bơi lội tung tăng ngay dưới chân mình.

 Vượt qua vách núi cheo leo bằng dây thừng treo trên vách đá.

Tại đây, mọi khoảng cách dường như được xóa bỏ, mọi thành viên như hòa lại thành một. Điểm nhấn đẹp nhất cho chuyến chinh phục này là cảnh đẹp đến ngỡ ngàng khi hoàng hôn buông xuống bãi Cô Vân.

Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi được chứng kiến một hiện tượng kỳ thú có lẽ chỉ xuất hiện tại những vùng biển hoang sơ như thế này. Đó là hàng triệu đốm sáng li ti như ánh sáng của đom đóm trải dài trên mặt nước khi sóng biển khuấy động, tiếc là ánh sáng phát ra yếu, máy ảnh chúng tôi không thể ghi lại được hình ảnh tuyệt vời này.
Vượt qua vách núi dựng đứng với độ cao 40m.

Theo giải thích của các nhân viên Vườn Quốc gia, những đốm sáng này phát ra từ các phiêu sinh vật biển, và chúng chỉ xuất  hiện tại những vùng biển chưa bị ô nhiễm.

Khác với những điểm du lịch thông thường, hòn Cau có quy định rất nghiêm ngặt, mọi sinh hoạt của con người đều phải ngừng lại trước 19 g30, trả lại sự yên tĩnh vốn có của nơi đây để nhường chỗ cho những "chủ nhân" thực thụ. Đó là rùa biển và các động vật khác.

Trò chơi vận động trên biển.

Với môi trường hoang sơ và được bảo vệ nghiêm ngặt, hàng năm vào khoảng tháng 4 đến tháng 10, nơi này thường xuyên xuất hiện rùa lên bờ đẻ trứng.

Trước khi đặt dấu chấm câu, xin được nói thêm, hòn Cau còn có tên Xóm Bà Thiết, gắn với nhân vật Võ Thị Thiết, người có công đầu trong việc việc khai khẩn và tạo dựng). Với diện tích 1,8 km2, nằm cách đảo chính khoảng 10km về hướng Đông Bắc, Hòn Cau là hòn đảo duy nhất (ngoại trừ đảo chính Côn Sơn) có mạch nước ngầm và cây ăn trái (chủ yếu là dừa và chuối).

Đoạn đường trở về trạm kiểm lâm.

Côn Đảo nói chung và hòn Cau nói riêng, ngày xưa đã từng là địa ngục trần gian, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng bị lưu đày và biệt giam nơi đây.

Những điều cần lưu ý khi đến hòn Cau

- Nằm khá xa so với các đảo khác, hòn Cau là nơi đầu sóng ngọn gió của quần đảo Côn Sơn. Việc đi lại chủ yếu bằng thuyền, những lúc sóng lớn hành khách được trung chuyển từ thuyền lớn vào đảo bằng xuồng cao su. Do đó, du khách cần phải bảo quản thật kỹ hành lý để tránh bị ướt (do dễ bị rơi xuống biển).

 Rùa biển lên bờ đẻ trứng.

Diện tích hòn Cau khá nhỏ, không có điện nên mọi tiện nghi hầu như không có. Việc tham quan đảo cũng hạn chế (không quá 24 khách/lần) để tránh ảnh hưởng đến môi trường đảo.

- Du khách khi tham quan đảo nên hạn chế đem theo nhiều hành lý, các vật dụng khi không còn sử dụng cần gom lại một chỗ để đem về thị trấn để tiêu hủy ,tránh làm ô nhiễm môi trường đảo. Đặc biệt, du khách không được xả rác thải ra môi trường (nhất là các vật dụng làm bằng vật liệu khó tiêu huỷ như nhựa, ni lông...).

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh

Chúng tôi ra biển khi trời vừa đâm mây ngang. Chuyến đi này, chiếc ghe te ruốc của Huy - một ngư dân trẻ ở ngay đầu giồng Đồn sẽ có chuyến đi hơi đặc biệt.

Đầu tiên, Huy sẽ đưa chúng tôi đi tham quan những hàng đáy ruốc trong nắng sớm và ghé cồn 15, một cù lao giờ đã nổi cao và ngày càng mở rộng ở mé ngoài cửa biển Mỹ Thanh... “Tháng 3 bà già đi biển”. Biển êm cũng bắt đầu vô mùa Ruốc đến tận tháng 5 âm lịch. Có lẽ vì ở đoạn giữa của dòng Hải lưu Biển Đông, cùng với dòng chảy của sông Hậu đổ ra biển qua cửa Trần Đề, rồi dòng chảy của dòng Mỹ Thanh, tốc độ lấn biển của vùng cửa biển này thật nhanh...
 Tác giả và quay phim Tìa Lâm Huy trên cồn 15 vào sáng sớm.

Phải chăng đây cũng là lý do để hình thành nên dáng hình của những giồng cát ở Vĩnh Châu khi những giồng cát này luôn có hình dáng như một vòng cung lớn đồng phương với đường bờ biển.

Trước khi ghé vô đây Huy cũng cho chúng tôi biết một thông tin khá thú vị : “Cồn 15 giờ đã nối liền với cồn Trâu thành một giồng cát ngầm dài mút mắt. Ghe tàu đi không khéo mắc cạn như chơi. Còn luồng biển sâu nằm ở phía mặt trời mọc”.
  Một ghe te ruốc trước hàng đáy ruốc trên cửa Mỹ Thanh.

Có đặt chân lên cồn 15 mới thấy đuôi Cù Lao Dung thật gần, bãi biển Hồ Lạng, Hồ Bể cũng thật gần. Chợt nhớ câu “Thương Hải Tang Điền”. Tôi chợt nghĩ - chắc cũng chẳng còn mấy mà đuôi Cù Lao Dung sẽ vươn đến nơi đây!? Hoặc giả không chừng... chỉ cỡ chục năm nữa... người ta có thể đi bộ từ bãi Hồ bể ra đến chỗ này để ngắm biển?

Te ruốc và bữa cơm trưa trên biển
Nắng lên, chúng tôi bắt đầu cho chuyến te ruốc trên biển Hồ Bể. Quan sát 3 ngư dân hạ 2 càng te xuống và chuẩn bị cho một ngày làm việc trên biển mới hiểu, tại sao nghề biển dù mới chỉ loanh quanh gần bờ thôi nhưng đã rất cần một thể lực dẻo dai. Mỗi càng te bằng cây bạch đàn được nối lại dài khoảng 15-16 thước, đầu càng gắn một miếng sắt lớn uốn cong về phía trước như một bàn trượt. Cả 2 càng te gắn trước mũi ghe nằm trên một thanh gỗ lớn làm giá đỡ. Trước khi được đẩy xuống nước, 2 đầu càng te được gắn 2 trái bóng lớn bằng nhựa để tạo sức nâng lên để ngư phủ nhẹ bớt sức nặng. Đưa được 2 càng te xuống nước xong thì các ngư phủ còn phải nhảy xuống biển để gắn lưới, cân càng cho đồng hai bên… cuối cùng là tháo 2 trái bóng để bắt đầu công việc. Tất cả những công việc này đều cần đến thể lực và sự khéo léo…

Đi biển mỗi nghề có một cách ăn chia riêng. Te ruốc có hai kiểu chia: đi ngày và đi chuyến. Đi ngày thì bạn đi ghe sẽ nhận được một số tiền ấn định trước dù có chúng hay thất. Còn đi chuyến thì bạn ghe sẽ được theo tỷ lệ phần trăm đã xác định trên tổng số sản phẩm đánh bắt được. Anh chàng ngư dân nhỏ nhất của chuyến đi này tên là Nhí sau mẻ te đầu tiên thăm dò chọn đi ngày. Phụng-chọn đi chuyến. Chuyến này, te vô toàn ruốc Bông lau, thân ruốc lớn, trắng hồng. lẫn trong đụn là những chú cá dứa, tôm sắt, tôm giang, tôm bạc...
Đã xuống xong càng te và đang cài lưới.

Đang là mùa biển êm nên cả vùng biển ghe tàu thả lưới, ghe cào, ghe te ruốc xuôi ngược thật nhộn nhịp. Điện thoại di động đã phủ sóng ra tận ngoài biển nên ngư dân liên lạc hỏi chuyện trúng thất để lái ghe di chuyển ngược nước hay cắt ngang dòng chảy tìm luồng đánh trúng thật dễ. Một từ mà ngư dân khi hỏi thăm nhau thường dùng cũng thật “ngồ ngộ”. Đó là từ “đồ”. “Đồ từ sáng tới giờ khá không ? Có đồ nhiều không” ? “Cũng khá! Nhưng cá dứa nhiều quá”. “Sáng giờ đẩy 3 mẻ ngược nước khúc cống 16 coi bộ dính tạp nhiều quá”.

Hoá ra từ này là để chỉ loại hải sản chính của chiếc ghe, chiếc tàu nào đó? Nếu là ghe cào thì “đồ” chủ lực sẽ là tôm sắt, tôm thẻ, tôm giang. Còn ghe đi te ruốc thì “đồ” chính là con ruốc. Những hải sản khác chỉ là phụ thêm mà thôi. Tuỳ theo chiều đẩy mà cứ khoảng 10-15 phút thì kéo tùng lên để “xả đồ”. Mỗi mẻ chí ít cũng được non 2 ký ruốc, trúng thì hơn 5 kg.

Trời trưa đứng bóng, chúng tôi cùng 3 ngư phủ ăn bữa cơm trưa đạm bạc trên biển. Nồi cơm đã được vợ của Huy chuẩn bị trước vào sáng sớm cùng với dĩa khô cá rô phi được chiên sẵn. Hôm nay có 2 vị khách là tôi và quay phim Tìa Lâm Huy nên những chú tôm sắt, tôm giang, tôm thẻ cũng được luộc lên để đãi khách. Giữa biển, trời trưa nắng, ghe vẫn chạy, thi thoảng Nhí, Phụng hoặc Huy lại buông chén để kéo tùng - xả ruốc. Đang ăn đấy nhưng vẫn làm đấy…
 Ngư phủ Nhí với mẻ te đâu tiên.

Con nước chuẩn bị lớn. Huy quyết định về bến để phơi ruốc cho kịp nắng. Công đoạn lên hai càng te lúc này mới thật sự là vất vả và nguy hiểm hơn khi xuống. Không chỉ cần đến sức mạnh của thể lực mà các ngư phủ còn phải thật khéo léo mới có thể đưa 2 càng te khổng lồ này lên được trên ghe. Khi này, 2 đầu càng te đã xả lưới và được cột vào 2 trái bóng nhựa… Nhí và phụng mỗi người một bên để canh ghì cho 2 càng te đi thẳng… Huy cầm lái ở phía sau nhắp ga cho chiếc ghe nhóng lên phía trước từng đợt, từng đợt để hất ngược 2 càng te về phía sau cho đến khi 2 càng te lọt vào ngàm giữ ở phía sau lái. Đây đúng không phải là công việc dành cho những người không có cơ bắp và sức lực như tôi…

Huy cũng quyết định cân luôn số ruốc của một ghe bạn khoảng hơn 100kg với giá 10.000đồng/kg. Hôm nay đánh cũng trúng khá nên chiếc ghe này quyết định ở lại đẩy thêm con nước lớn. Như vậy kể như đã gần xong một ngày lao động. Nhí ngồi ở mũi ghe vô tư đùa nghịch với 2 chú rẹm. Nước lớn, chiếc ghe vô rạch Giồng Đồn. Những người phụ nữ ở nhà đã chuẩn bị xong bãi để phơi ruốc cho được nắng. Một ngày trên biển đã qua. Hôm sau, chiếc ghe và những ngư phủ lại tiếp tục ra biển.

Phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh
Sách Gia định thành thông chí của tác gia Trịnh Hoài Đức ghi chép về Mỹ Thanh hải môn xưa như sau: “rộng 10 dặm, khi nước lên sâu 12 thước ta, nước ròng sâu 4 thước ta. Bờ phía tây có thủ sở... thổ sản ở đây là thuốc lá, dưa quả và phơi tôm khô”.  Đây cũng chính là lý do mà chúng tôi dành ra một ngày tìm hiểu về những sản vật đã làm nên danh tiếng của vùng cửa biển này.
Phụng và Nhí ở mũi ghe bắt đầu lên càng te.

Với nghề đáy, nước ròng thì bắt đầu cài đáy, đến khi nước chuẩn bị những lớn thì dỡ đáy, từ nghề nghiệp là phạ đáy. Những hàng đáy đóng ở trên sông gọi là đáy chỉ. Cá tôm vào hàng đáy chỉ thì đủ loại. Thế nhưng trước khi phân loại thành quả thì việc dọn rác, giũ đáy là công việc nặng nhọc nhất. Chính vì vậy mà một chủ đáy nếu gia đình ít người thì luôn có những bạn đáy đi cùng để phụ giúp. Từ việc cài đáy, lên đáy, giặt đáy cho đến việc lên cá và lựa cá. Nghề hạ bạc này luôn đòi hỏi những thân hình lực lưỡng tràn đầy thể lực. Những công việc nặng nhọc nhất gánh đàn ông đã làm xong, còn những công việc đòi hỏi sự tỷ mỷ, nhẹ nhàng và khéo tay, nhanh nhẹn được dành cho các chị, các em, đó là phân loại cá, tép, tôm… ra riêng từng loại, cân hàng.v.v.

Trò chuyện cùng tôi sau một chiều đáy vào một buổi trưa tháng 5/2012, ngư phủ An, một bạn đáy vui vẻ nói:
- Nghề này sống được anh à! Trung bình một tháng em đi khoảng 25-30 chiều đáy. Một chiều là 100 ngàn. Nuôi vợ con được. Lúc rảnh thì làm thêm mấy chuyện khác nữa.

Hoá ra  một “chiều” là một chiều con nước lên đáy, xuống đáy. Người đi bạn sẽ làm những công việc như: lặn xuống những cọc đáy để cài đáy, kiểm tra mành lưới… chiều lên đáy thì làm ngược lại nhưng cực hơn nhiều vì còn dọn rác, lựa cá, tôm và cuối cùng là gánh sản phẩm về sân.

Nghề đáy ngày nay trúng nhất có lẽ chỉ còn ở vùng cửa Mỹ Thanh với những hàng đáy thuộc làng chài Mỏ Ó. Dù vậy nếu so với những ngày trước thì đã kém hẳn. Những lão ngư dân cựu trào vẫn còn nhớ như in những ngày xưa, khi mà mỗi chiều đáy, một miệng đáy lên được cả trăm ký tôm cá. Bác Nguyễn Văn Heo, năm nay đã 71 tuổi và tự hào là người đã có 3 đời làm nghề đáy kể rằng:
Cân cá, tôm ở làng chài Mỏ Ó.

- Nghề đáy ngày xưa tính trúng thất bằng “chảo”, tức là chảo gang lớn để luộc tôm đó. Mỗi miệng đáy ở xứ này mà mỗi chiều lên chỉ có 2-3 chảo thì kể như thất! Còn trung bình thì phải từ 5 đến 7 chảo. Một chảo tôm như vậy sau khi phơi khô thì cân được khoảng 18 ký tôm khô. Bán chủ yếu lên miệt Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho và miệt ngoài chớ dân ở đây ăn gì hết.

Hoá ra vậy! Thành thử hỏi sao xưa kia vùng cửa sông này không nổi tiếng với con tôm khô.

Nghề nào cũng vậy! Ắt có lúc thịnh, lúc suy. Dân cư đông đúc, ghe tàu thêm đông, nhiều kiểu đánh bắt hiện đại và tinh vi hơn thì những phương thức đánh bắt truyền thống giảm sút sản lượng và hiệu quả cũng là điều dễ hiểu.

Làng chài Mỏ Ó giờ đã là bến tập trung những ghe tàu đánh bắt nhiều kích cỡ. Tàu lớn đánh lưới khơi, tàu đánh cá gộc, tàu cào, tàu lưới đủ cả. Gặp đúng con nước tàu về bến, hẳn khách phương xa ắt choáng ngợp trước sự náo nhiệt của những bến nước, của đầy ắp cá tôm. Cả làng chài náo nhiệt như một ngày hội.

Cho đến nay, biển được ví như “Bạc” vẫn đúng. Biển vẫn đem đến cho những ngư phủ niềm vui tràn đầy khi lên mẻ lưới trúng, biển hiền hoà nhưng cũng có khi khắc nghiệt với con người. Biển đòi hỏi những người ra biển phải có một thể lực sung mãn, tinh thần vững vàng, sẵn sàng đương đầu với bão giông bất chợt.

Chuyến phiêu du của chúng tôi ở làng chài Mỏ Ó kết thúc khi trời đã ngả về chiều. Khi những hạt nắng ươm rải khắp những giàn liếp, đượm thêm cho những sấp cá khô những sắc màu tươi tắn.
 
(Còn tiếp)

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh

Dòng Mỹ Thanh mênh mang, ôm trong lòng những truyền thuyết và huyền thoại về một thời mở đất.

Con sông có dòng chảy ngược

Từng giờ, từng phút, từng giây dòng Mỹ Thanh vẫn cần mẫn chở nặng phù sa đắp bồi cho đất mẹ vươn dần ra biển lớn. Không những vậy, với đặc thù địa lý của một vùng cửa sông đổ ra biển, Mỹ Thanh còn là dòng sông mang đến cho người dân vùng này biết bao sản vật của vùng đất rừng ngập nước, đem đến cho cư dân nơi đây một cuộc sống thật dễ chịu khi dưới tán rừng “ mùa nào thức nấy ”. Đây chính là điều cuốn hút chúng tôi quyết định phải thực hiện một chuyến phiêu du để khám phá vùng đất cửa sông này.

Sông Mỹ Thanh bắt đầu từ ngay Ngã tư rạch Cổ Cò (tên chữ là Lộ Cảnh), chảy theo hướng đông bắc và đổ ra biển Đông. Mỹ Thanh có chiều dài khoảng 25 km, là ranh giới tự nhiên của TX.Vĩnh Châu với huyện: Mỹ Xuyên và Trần Đề. Khi xưa, vùng đất bờ sông phía biển thuộc sứ Bạc Liêu, bờ phía trong này thuộc Ba Xuyên. Cách đây khoảng còn chưa lâu nếu so với chiều dài của dòng thời gian thì vùng đất hai bên bờ sông chủ yếu chỉ làm một vụ lúa nhờ nước trời nhưng ngày nay, những vuông tôm, những trại tôm đã ken dày suốt cả hai bờ. Vùng nào chuyên tôm thì cứ nuôi tôm, vùng nào làm lúa thì đã làm được cả 3 vụ. Thảm thực vật hai bên bờ sông là những loài đặc hữu của vùng đất, vùng rừng ngập nước như : Mấm trắng, mấm đen, dừa nước và bần. Thi thoảng, lại ken những đám rau mui, ô rô, cóc kèn dày đặc.

Nhìn trên bản đồ, quan sát dòng chảy của những con sông của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đổ ra biển, chúng ta dễ dàng nhận thấy dòng chảy của Mỹ Thanh gần như vuông góc với những dòng sông khác. Ở đây, chỉ xét ở góc độ tương đối: Nếu Tiền Giang, Hậu Giang và 9 cửa đều chảy ra biển theo hướng từ Bắc xuống Nam thì dòng Mỹ Thanh lại đổ ra biển theo hướng từ Tây sang Đông.

Ngã Tư Cổ Cò (tên chữ là Lộ Cảnh).

Với ảnh chụp từ vệ tinh mà Google cung cấp, ta dễ dàng nhận thấy - dòng chảy của sông Mỹ Thanh cắt gần như vuông góc với dòng Hậu Giang ở khu vực cửa Trần Đề. Có lẽ chính vì dòng hợp lưu này, cộng thêm với tác động của dòng hải lưu biển đông đã tạo nên những dải giồng cát đồng tâm với đường bờ biển, trải dài suốt dọc theo của đường bờ biển Vĩnh Châu, làm nên vùng rừng ngập mặn đặc thù của cửa sông này.

Anh Lý Hoà Khương - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TX.Vĩnh Châu cho biết: Cùng với rừng bần ở đuôi Cù Lao Dung, dải rừng Bãi Giá và tuyến rừng đước, rừng mấm trải dài cả vùng cửa sông này đã làm nên một bãi sinh sản lý tưởng cho rất nhiều giống loài thuỷ sản như: tôm càng, cá bông lau, cá sủ, bãi nghêu giống, sò huyết... Mỹ Thanh còn là nguồn chính cấp nước cho các vùng nuôi tôm nước lợ trong tỉnh nên có thể khẳng định rằng: nguồn tài nguyên thiên nhiên mà con sông này mang lại cho người dân Sóc Trăng là rất lớn và cần có biện pháp để ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường trên cả tất cả lưu vực của con sông này.

Những cánh rừng mấm, bần, chà là, đước chạy dài từ cửa Mỹ Thanh suốt dọc theo ven biển Vĩnh Châu không chỉ có tác dụng giữ đất, lấn biển mà dưới tán rừng, nguồn sản vật đã đem đến cho cư dân nơi đây một nguồn thuỷ, hải sản thật phong phú. Dưới tán rừng đước, rừng mắm, rừng bần… đến mùa thì người dân nơi đây đi bắt ba khía, bắt cua, bắt ốc, cào nghêu, vớt cá bống kèo giống. Còn giăng lưới không chỉ là để kiếm thức ăn mà còn là một sinh kế thường ngày của không ít người chưa kể, cá thòi lòi, cá chốt nghệ luôn là những đặc sản được giá.
 Một hàng đáy thùng trên sông Mỹ Thanh.

Ngồi trên chiếc ghe cào chạy suốt từ ngã tư Cổ Cò xuôi ra cửa sông mới thấy hết cái đẹp, cái tình của con sông này. Dòng sông trước mặt lúc thì như hẹp lại, rồi lại mở ra một không gian mới rộng mênh mang, xanh ngắt ở mỗi khúc quanh của con sông...

Cửa sông và xóm chài của những nghĩa dũng !?

Sách Gia định thành thông chí của tác gia Trịnh Hoài Đức ghi chép về Mỹ Thanh hải môn xưa như sau: “rộng 10 dặm, khi nước lên sâu 12 thước ta, nước ròng sâu 4 thước ta. Bờ phía tây có thủ sở… thổ sản ở đây là thuốc lá, dưa quả và phơi tôm khô. Ngoài cảng về phía đông có cồn cát ngầm, dài chừng 5 dặm, ghe thuyền phải lo tránh”.

Theo mô tả của Trịnh Hoài Đức, cửa Mỹ Thanh ngày xưa chắc chắn rộng và sâu hơn hiện nay. Bởi cũng từ chính những đặc thù này mà hai bên bờ sông Mỹ Thanh, những làng chài, bến đáy, xóm lưới mọc lên san sát nhau. Chỉ riêng điều này cũng đã cho thấy sự giàu có về nguồn tài nguyên thuỷ sản mà dòng sông đã đem đến cho con người. Ở vùng cửa sông này giờ có 2 xóm chài, xóm lưới nổi tiếng là Mỹ Thanh thuộc TX.Vĩnh Châu và Mỏ Ó thuộc huyện Trần Đề.

Xóm chài Mỹ Thanh là xóm chài được xem là lâu đời nhất ở vùng cửa sông này. Và cũng chính xóm chài Mỹ Thanh là nơi Bác Tôn đã lần đầu tiên đặt chân lên đất liền sau những năm tháng Người bị thực dân Pháp đày ải ở địa ngục tràn gian Côn Đảo.
 Bầy cò trắng bình yên ven sông Mỹ Thanh.
Theo những bậc cao niên ở đây thì sau khi cuộc khởi nghĩa chống Pháp của lãnh tụ Trương Công Định thất bại, những nghĩa binh phải lưu tán xa quê hòng tránh sự truy nã của quân Pháp và tay sai. Sau nhiều ngày dong buồm xuôi về phương Nam, họ đã chọn nơi cửa sông này để định cư, lập nên xóm chài Mỹ Thanh ngày nay. Điều này cũng lý giải vì sao những người dân cố cựu ở đây phần lớn đều có gốc gác ở miệt Gò công, Tiền Giang...

Những cư dân ở đây thật hiền hoà, chất phác và cũng thật dễ gần. Trên đường ghé thăm Lăng ông Nam Hải Mỹ Thanh vào khoảng 13h30 một ngày giữa tháng 3/2012, thật may mắn cho chúng tôi là gặp được chú Sáu Tòng-Chánh bái hội Lăng ông Mỹ Thanh. Những câu chuyện kể gắn liền với những địa danh, những truyền thuyết mà chúng tôi được nghe, được thấy đã cho chúng tôi một cái nhìn mới về cái đẹp của những câu chuyện kể, về tốc độ bồi lắng của phù sa lấn biển, về nguồn tài nguyên phong phú nơi đây.

Những câu chuyện thú vị về tên cồn, bãi

Chú Sáu Tòng hào hứng kể cùng chúng tôi chuyện ngày xưa ở xứ này: Vùng Hồ Lạng ngày xưa tới mùa thì khỏi cần đi câu cũng bắt được cá Dứa (tức cá Bông Lau) để ăn. Cỡ tháng 7 tháng 8 âm lịch, khi trái mấm, trái bần chín rụng thì chỉ cần chờ nước lớn, xách cây dao yếm hay cây mác đứng canh đợi cá Dứa nhào lên mé hoặc len vô gốc mấm, gốc bần kiếm ăn mà chém rồi xách về. Con nào con nấy 4-5 ký là chuyện thường. Còn tại sao lại gọi là cồn Đầm hả? Nghe ông bà xưa nói lại thì đúng ra nó là cùng đường, vì ra tới đó là đụng biển rồi hết đường. Ở đó có cái cồn đẹp lắm. Hễ thứ 7, chủ nhựt là mấy ông tây, bà đầm đánh xe xuống đó tắm. Ở ngoài cũng cất luôn cái nhà mát cho mấy bà đầm nghỉ ngơi. Cái cồn này đầm xuống tắm hoài nên gọi luôn nó là Cồn Đầm cho tới bây giờ.

Chú Sáu Tòng và tác giả trò chuyện ở Lăng ông Mỹ Thanh.
Đến đây cũng cần tìm hiểu thêm về hai địa danh Cồn Sỏ, Hồ bể. Theo chú Sáu Tòng thì địa danh Cồn Sỏ phải gọi là Cồn Sọ mới là đúng nhất vì ngày trước, vùng cửa sông này còn có bãi cá đường hội. Tới mùa cá đường hội, dân chài chỉ bắt cá mổ lấy bong bóng… còn cá gộc, cá dứa thì chỉ lấy mình làm khô còn đầu thì cắt bỏ. Đầu cá tấp vào cồn chất cả đống. Nhưng sau này đọc trại riết ra thành Cồn Sỏ.

Theo miêu tả và sự chỉ dẫn của chú Sáu Tòng, chúng tôi men theo giồng Mù U để đến Hồ Lạng. Trạm Kiểm lâm Hồ Lạng nằm ngay đầu một con rạch cho biết chúng tôi đã tìm đến nơi. Những cây đước, cây giá giờ đã ken dày thành rừng. Một con đường đê nhỏ dẫn chúng tôi ra vụng nước Hồ Lạng ngày xưa. Hồ lạng nay đã lạng hẳn và rừng mắm, đước đã mọc kín bãi... Tuy đã bồi lấp hẳn, kể như đã “lạng” mất, không còn cảnh cá dứa, cá ngát chen nhau ăn trái bần, trái mấm khi nước lớn, nhưng dưới tán rừng là nơi trú ngụ của lũ cá Thòi Lòi, một đặc sản của vùng rừng Sác. Chỉ cần một buổi sáng, một người cũng có thể kiếm được hơn 100.000 đồng từ việc đi thụt cá Thòi Lòi khi 1 kg cá hiện giờ bán cho vựa cũng đã là 60.000 đồng.

Đến vùng cửa sông này mà không đến chơi ở bãi biển Hồ Bể là một thiếu sót lớn. Cả một vùng cát chạy dài suốt gần 2 km theo bãi biển. Khi nước triều xuống, bãi cát cứ trải dài, dài mãi ra phía biển…

Vũng biển này được tạo thành chủ yếu là cát trắng và những đụn cát trắng này thay đổi theo mùa gió và sóng biển. Vào mùa nồm nam, những vành đai cát vươn ra phía biển và có xu hướng bồi lên những nổng cát mới.
 Bãi biển Hồ Bể.

Điều này được giải thích là do nguồn nước từ sông Hậu đổ xuống mang theo phù sa bồi đắp và sóng biển chạy dọc từ hướng bãi Trà Sết ngược lên tạo thành. Đến mùa chướng (tức là khi gió bấc về, bắt đầu khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10 âm lịch), lúc này sóng lớn đập vào bờ từ hướng bắc xuống, cộng với triều cường nên lấy đi những vành đai cát đã được thiên nhiên tạo lập trước đó. Mặt vũng lại mở rộng như trước. Có lẽ đây chính là điều làm nên địa danh Hồ Bể. Chúng tôi lại nhớ đến câu ca dao: “Dã tràng xe cát biển Đông”... Mới có đó nhưng rồi lại mất đi, để rồi đến mùa nồm Nam thì quay trở lại. Chỉ uổng công những chú còng gió (Dã tràng) vẫn miệt mài xe cát mỗi ngày trên bãi.

Đường đến Bồ Bể giờ đã dễ đi. Một con đường đã được mở để nối Hồ Bể với đường Nam Sông Hậu. Có thể thấy rằng, dù chưa được đầu tư để trở thành một khu du lịch sinh thái đúng nghĩa, nhưng cảnh quan của Hồ Bể cho thấy: đây là vùng đất có tiềm năng mở ra một khu du lịch trong tương lai khi hiện nay, đây đã là một điểm dã ngoại lý tưởng cho những hoạt động thể thao ngoài trời như: đá bóng hay bóng chuyền trên bãi biển. Nhưng rồi cũng gợn lại chút lo lắng… khi chợt nghĩ: du lịch thường đi kèm với… tàn phá môi trường, với bê tông hoá những khung cảnh nên thơ mà thiên nhiên đã phải trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm tạo lập. Thôi thì cứ xem đó là… lo xa vậy.

“Đi cho biết đó, biết đây.... ” ! Hãy đi để thấy quê hương mình đang đổi thay từng ngày. Hãy đi để thêm yêu những con người, những vùng đất mới đầu cứ tưởng như là xa lạ, nhưng nếu đã đến một lần thì lại thấy nhớ, thấy quen.
(Còn Tiếp)
Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Xuôi xuống cực Nam

Ước mơ đi đến tận cùng trời cuối đất, chí ít trên đất Việt, hóa ra cũng chẳng mấy khó. Xe máy bình thường, trong một ngày, có thể từ Sài Gòn tới tận cực Nam, tới rẻo đất cuối cùng. Nhưng la cà có cái thú của nó, dù phần lớn phải đi theo quốc lộ 1A lắm xe và bụi bặm.

Người ta bảo điểm đến đôi khi không quan trọng bằng những gì nhìn ngắm trên đường. Điều ấy đúng với các cuộc du ngoạn ở miền Bắc quanh co đồi núi. Còn ở miền Nam, cái thú vị lại là ở sự tiếp xúc với con người. Bản tính phúc hậu, thẳng thắn, trọng nghĩa như còn tươi rói, mới hơn ba trăm năm, thời mang gươm đi mở cõi, chống lại cọp beo, cá sấu...
 
Chùa Kleng với kiến trúc Khmer Nam bộ.
Chùa Dơi ở Sóc Trăng cháy rồi (đã được xây dựng lại), nhưng còn nhiều chùa khác trong những khu rừng mát mẻ. Chùa Kleng được cho là ngôi chùa lớn nhất với kiến trúc Khmer Nam bộ.

Nghỉ dọc đường, ở đâu cũng vậy, ghé thăm viếng, nghỉ uống nước trong khu vườn chùa nhiều cây này mát lạnh. Một ngôi chùa khác, gọi theo dân dã là chùa sành sứ, vì nó được chạm bằng những viên sứ. Không quá tinh xảo như một tác phẩm nghệ thuật mà chỉ minh chứng cho “nghệ thuật nhân dân”.
Người địa phương gọi chùa này là chùa sành sứ vì nó được chạm từ những mảnh sứ.
 Trong những khu rừng như còn nguyên sơ có cả những ngôi đền để tu luyện. Những ông “sư sinh viên” này cũng rành chuyện thế sự chẳng kém ai, nhưng thật nền nã, khoan thai.

Sóc Trăng nổi tiếng với món bánh Pía và bánh Mè Láo. Miếng Mè Láo mà hiền, tròn, giòn, thơm mùi dừa, ngọt mùi mía. Nhớ về cụ Vương Hồng Sển, một bậc thầy về ghi chép du khảo mà... ngại. Chẳng ai kỹ lưỡng được như cụ.

Đường miền Nam dễ đi không chỉ vì bằng phẳng, thường cặp sông, loanh quanh đâu cũng tìm ra được, mà còn vì các thị tứ thường chỉ cách nhau 60 km, trừ hai bên sông Tiền.
Mộ nhạc sĩ Cao Văn Lầu.
Người ta bảo ngày xưa các cụ đặt thế, là để vừa một cung đường ngựa chạy, hết một cung là nghỉ. Nghe nói thời chiến tranh, người ta cũng căn cứ vào đó mà cấp xăng, chỉ cấp đủ chạy 60 cây, đề phòng chạy lăng xăng không đúng mục đích!

Các thị tứ ngày nay thường na ná giống nhau cả, do đua nhau kiến trúc “tân thời”. Chợ đêm ở Bạc Liêu còn có cái gì khang khác: cả một dãy phố ăn đêm, nhưng cấm rượu bia! Đủ cả các món mồi, từ hải sản, đồ địa phương cho đến bán hàng hóa, nhưng tuyệt nhiên không có cồn, không có toilet cho mà đi nữa. Thế nên, chỉ có nam thanh nữ tú rủ nhau đi ăn ốc đêm, nhậu mời ra chỗ khác.

Nhưng Bạc Liêu có món mì cay thú vị. Rất rẻ, chỉ vài ngàn đồng, vì là món bình dân. Nhưng mùi và vị cay của nó lại thú vị lưu luyến. Không cay xé, cay nồng, mà dìu dịu, chàn chạt. Mì thì mềm, nước sệt nâu đỏ, quện với rau húng. Chậc! Có lẽ chẳng thấy chỗ nào có. Mà mấy cái quán mì cay này đông nghịt.
Khách sạn Công tử Bạc Liêu nguyên là nhà của Công tử Bạc Liêu.
Miền Tây khoáng đạt gom hồn trời trăng mây nước, nghĩa tào khang vào những bản vọng cổ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Mộ của ông nằm trong cánh đồng hẻm đường chính mang tên ông.

Ở Bạc Liêu còn có một nhân vật lừng danh một thời. Đó là công tử Bạc Liêu. Nhà ông to đùng, xây kiểu biệt thự Pháp trong vườn lớn bên bờ sông, nay trở thành khách sạn. Trong nhà vẫn giữ nguyên trạng thời ông còn sống, phòng khách, bàn thờ và những tấm ảnh xưa.

Vườn trở thành quán cà phê cho du khách, lịch lãm. Ở đấy, người ta bàn tán rằng ông mới là người Việt Nam đầu tiên mua máy bay riêng, rồi mới đến vua Bảo Đại, còn cái chuyện đốt tiền soi đuốc là thật, mà là tiền thời không lạm phát!
Tiệm cà phê lưu động.
Cà Mau đã trở thành thành phố to. Qua cái bùng binh vật vưỡng, leo qua cây cầu lớn là thẳng đường tới Năm Căn. Đường đẹp, thẳng tắp, Năm Căn không còn là mối lo ngại của dân chạy xe.

Gửi xe máy vào nhà dân ở ngay bến tàu, chọn loại tàu để ra Đất Mũi. Có loại đi bốn tiếng, có thể mang xe máy theo, có loại cao tốc chỉ chạy hơn một giờ. Nhưng mang xe máy ra Đất Mũi cũng chẳng có nhiều đường để chạy. Cả thảy chỉ có 6 km chạy vào đến Xóm Mũi, mỏm đất cuối cùng.

Chuẩn bị xây dựng khu du lịch và nghỉ dưỡng.
Bến tàu ngay trước chợ Đất Mũi, có sẵn đội quân xe ôm được tổ chức mặc áo đồng phục, sắp tài đàng hoàng. Giá hét 15.000 đồng, nhưng trả 10.000 đồng là được. Các bác xe ôm rất dễ thương. Họ mách nước du lịch kiểu “stay home” hay và rẻ hơn, sẵn sàng phục vụ tận tình. Nhưng vì khách sạn đã đặt trước nên không thể thay đổi.

Đó cũng là sai lầm. “Khách sạn” là những căn nhà gỗ trong rừng đước. Kể cũng hay, nhưng tối, ẩm và buồn. Đặt rồi, cuối cùng nhiều người cũng bỏ không vì cái tính lang bạt, vui đâu chầu đấy.
Đường vào Xóm Mũi - mỏm đất cuối cùng ở cực Nam.
Ở mỏm đất cuối cùng này có hai nhà hàng. Một cái là thủy tạ, vươn ra biển, cái kia dựa lưng vào đất. Đủ món hải sản, cả đàn ca tài tử, nhậu tới khuya và ngủ luôn tại trận, với sóng, gió và muỗi...

“Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh” là câu mô tả súc tích. Sáng dậy thấy máu đỏ lưng, hóa ra lăn đè chết muỗi... trong mùng!

Cột mốc hình con tàu và điểm tọa độ GPS là hai vật kiến trúc khác được xây dựng trong khu vực này. Bước ra là biển, và biển ngày càng xa, do đất bồi. Một dự án lớn đang chuẩn bị biến chỗ đó thành khu du lịch và khách sạn nghỉ dưỡng kiên cố.
Còn bây giờ, nối giữa chúng là những hành lang trên cao, và cả những cây cầu khỉ đem lại cảm giác ấn tượng...
Theo Trương Văn (Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)

Hành trình lên cực Bắc trong đời sinh viên...

Tôi lên Hà Giang ôm theo một giấc mơ tam giác mạch, ấn tượng về ruộng bậc thang qua những bức ảnh, cuộc trường chinh của con người mở đường vào cao nguyên đá, những phiên chợ vùng cao đầy màu sắc mới lạ…


Hà Giang – Mỏm cực Bắc

Đó là những con đường quanh co bao phủ sương mù với bên này là núi, bên kia là vực thẳm. Ngồi trên xe cảm giác sợ hãi đến thót tim khi xe chỉ có thể tiến chứ không có chỗ quay đầu. Không chỉ có thế, chốc chốc gặp những khúc cua khiến xe như muốn quay ngang ra khiến mọi người lại được phen hoảng hốt.
Nhưng Hà Giang với tôi còn có cả những ngày nắng đẹp, ánh nắng vàng lấp lánh như ruộm cả một vùng thung lũng bao la.

Những nấc ruộng ruộng bậc thang được ánh nắng chiếu vào nổi lên như tấm bản đồ Tổ quốc khiến đứa nào cũng phải trầm trồ “Chưa bao giờ thấy cảnh tượng nào đẹp hơn”! Tầng tầng lớp lớp ruộng bậc thang như từng đường gân của đất Mẹ nổi lên khiến người xem xúc động và trái tim như bật khóc trước vẻ đẹp của đất trời kia.

Hà Giang còn cho tôi thích thú với cảm giác được đi bộ trên miền núi cao. Quãng đường 1,5 cây số lên cột cờ Lũng Cú, khiến nhiều người trong đoàn thấy mệt mỏi nhưng vẫn thích thú đi tiếp.

< Cảnh sắc hữu tình như chốn bồng lai tiên cảnh.

Vượt qua hàng lan can inox chắn là một cây thông cao lớn mọc nhô lên và cả đoàn được ngắm những nấc ruộng bậc thang đợt xanh đợt vàng, trải dài trong khoảng thung lung. Ruộng cứ nối tiếp nhau ở lưng chừng núi, trượt xuống sâu và vắt từ sườn này qua sườn khác. Chính giữa là những hồ nước lấp loáng phản chiếu ánh mặt trời bỏng rát, cao lên phía trên thì vẫn là núi cao tiếp giáp với mây trời.


< Cột cờ Lũng Cú.

Vẫn thật xúc động khi nhớ lại cảm giác lúc lên đến phần cao nhất của cột cờ Lũng Cú, chân lá cờ rộng 54m2, để nhìn xuống giang sơn gấm vóc này, Tổ quốc của chúng ta đẹp như một bức tranh diễm lệ mà không bút pháp nào có thể miêu tả hết được vẻ đẹp hùng vĩ đó.
Cột cờ Lũng Cú - mỏm Lũng Cú tột Bắc là “nơi bắt đầu nét vẽ của bản đồ Tổ quốc”.  Là điểm cực Bắc của đất nước và cũng là niềm khao khát muốn được chinh phục của bao dân phượt - “một lũ nặng phong vân”. Và chúng tôi đã đến, đã hát vang “Tôi yêu Việt Nam” dưới chân cột cờ đó, đã chào cờ và cất lên tiếng hát “Quốc ca” từ trái tim mình, để lại thấy biết yêu hơn bao giờ hết đất Mẹ thân yêu!

< Dinh nhà Vương với kiến trúc lạ mắt.

Cũng không thể nào quên Dinh nhà Vương, quy mô tuy không lớn nhưng được giữ gìn và bảo tồn khá nguyên vẹn. Đoàn chúng tôi thực sự bị gây ấn tượng mạnh bởi cánh cửa gỗ kiểu cổ lại tồn tại bên cạnh cầu thang đá có lan can sắt tây, mái ngói âm dương lại song song với tường bê tông trong cùng một quần thể kiến trúc, thật độc đáo và khác lạ!

Vào những ngày cuối cùng của chuyến đi, đoàn tôi được đến thăm hồ Na Hang. Vừa được đi thuyền vừa ăn trưa trên thuyền với xung quanh cảnh vật nên thơ, phong thủy hữu tình.

< Hồ Na Hang.

Có đoạn thuyền tiến gần tới thác, đúng lúc ấy mọi người đổ dồn về mũi thuyền, ai cũng hướng về phía trước thì sương sà xuống trắng xóa mặt núi, núi ẩn mình xanh ngắt rừng cây. Mây là làn tóc của bà Trời phủ trên đầu ông Núi, cây là áo xanh của bà Rừng đan trên mình ông Núi. Một khoảnh khắc mà thiên nhiên hiện ra hùng vĩ và tuyệt đẹp! Tất cả quanh tôi đều đẹp đến ngỡ ngàng như lạc vào cõi tiên!
Con người ở Hà Giang – đó là những người dân bình thường mà tôi đã được gặp ở phiên chợ Yên Minh đầy sản vật lạ. Họ thân thiên, dễ gần, chất phác và mến khách, họ nồng nhiệt khi tôi chụp ảnh họ và muốn được chụp cùng tôi.

< Những con người hiền lành, chất phác của vùng "Cao nguyên đá".


Đặc biệt hơn, tại ngôi nhà là bối cảnh trong phim “Chuyện của Pao”, làng văn hóa Lũng Cẩm, tôi đã gặp một cậu bé người Mông với sắc thái biểu cảm rất độc đáo. Không chỉ đôi mắt mà dáng ngồi, tất cả đều rất tự nhiên mà lại rất đặc biệt.
Dường như, nó không buồn cũng chẳng vui, không phấn chấn cũng chẳng sầu bi... Nó tư lự. Một cái tư lự rất thật! Nó không thể suy nghĩ được nhiều chuyện vì nó còn nhỏ quá, nhưng hình như nó biết cảm nhận cuộc sống xung quanh theo một cách rất riêng, bằng cái nhìn của chính nó! Điều ấy khiến nó khác biệt trong mắt tôi và khác với tất cả những đứa bé khác.
Bên cạnh đó, trên đường lên Hoàng Su Phì, đoàn tôi có đi bộ ngang qua ngôi nhà của một người Dao đỏ nằm kế bên các khoanh ruộng bậc thang. Nhà có một người phụ nữ đã luống tuổi đang ngồi nhóm bế.

Chưa kịp nói gì, bà bất ngờ bước ra ngoài, bàn tay nắm lên cánh cửa nhìn chúng tôi. Tôi đã gắng xin bà chụp một kiểu ảnh bà đẩy cửa ra, bởi đôi bàn tay mà tôi chưa từng được thấy. Đó là bàn tay của con người cả một đời làm ruộng nên móng tay chỉ còn một nửa vừa thâm vừa đen xì, to bè, vạm vỡ.

< Cậu bé người Mông khiến chúng tôi cứ nhớ mãi.

Nỗi xúc động, khi một bàn tay tôi chưa từng được thấy trước đây đã đẩy cánh cửa nhà họ để tôi thấy cuộc sống đồng bào tôi trên miền cao nguyên đã từng chỉ có đá và bây giờ thì không chỉ toàn là đá, thực không thể nào quên...
Trở về thủ đô giấc mơ tam giác mạch của tôi trên Hà Giang đã thắm sắc phớt hồng. Tôi vẫn còn chưa được chụp cánh đồng hoa tam giác mạch Sủng Là – một giấc mơ chưa nở hoa, phải trở lên lại thôi! Hẹn gặp lại một ngày không xa, Hà Giang nhé!

Theo Nguyễn Thành Trang (Dantri)

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Khám phá Hòn Sẹo hoang sơ, quyến rũ ở Bình Định

Là hòn đảo tiềm năng của ngành du lịch Bình Định, Hòn Sẹo còn khá nguyên sơ, kỳ thú và không có người ở. Nơi đây là điểm đến lý tưởng cho những ai thích khám phá nơi hoang vu, chưa có con người ngự trị.

Hòn Sẹo, một hòn đảo rất đẹp trên bán đảo Phương Mai, thuộc địa phận xã Nhơn Lý, cách Trung tâm thành phố Quy Nhơn 15 km về hướng đông bắc. Từ khi du lịch biển đảo được chú ý, tour lịch khám phá bán đảo Phương Mai đi vào hoạt động hòn Sẹo được biến đến như một điểm du lịch dã ngoại biển đảo kỳ thú ở Bình Định.

Bãi đá xinh đẹp và quyễn rũ khó tìm thấy ở đâu khác
Từ trong đất liền nhìn ra, hòn Sẹo tựa như con thuyền khổng lồ đang tiến vào bờ. Cho đến bây giờ, hòn Sẹo vẫn là ốc đảo hoang sơ, chỉ có cây dại, ghềnh đá với nhiều loài hải sản và nhiều loài chim sinh sống, ở đây không có nhà dân, tuy nhiên nơi đây được tạo hóa ban tặng cho một bãi đá khá rộng và bằng phẳng với vô số viên đá đủ màu sắc chồng xếp lên nhau, qua thời gian được sóng biển mãi dũa tròn trịa vừa bằng nắm tay trông rất đẹp và lạ mắt, thú vị đối với du khách ưa thích khám phá. Bãi đá xinh đẹp và quyễn rũ này được người dân địa phương gọi là bãi đá đẻ bởi theo cách lý giải của họ bãi đá ngày một nhiều ra qua năm tháng. Đá ở đây được nhiều người dân trong vùng và du khách thập phương thấy đẹp mang về làm kỷ niệm hay trang trí nhà cữa, hòn non bộ… thế nhưng bãi đá này không bao giờ hết đá, quả là một bãi đá độc đáo và có lẽ là duy nhất ở Bình Định.
Bãi đá Hòn Sẹo, nơi nhiều du khách thích thú bởi sự kỳ thú.
Cách bãi đá khoảng 10m nằm sâu trong chân núi thiên nhiên cũng ban tặng cho nơi này một hang đá khá rộng, và thoáng mát cùng lúc có thể chứa được khoảng hàng trăm người. Tất cả tạo thành nơi dừng chân, tắm biển, thư giản, nghĩ mát và ăn trưa vô cùng hấp dẫn đối với du khách.

Đi ghe thuyền câu cá, ngắm biển đảo, rặng san hô dưới đáy biển


Để khám phá Hòn Sẹo, bạn có thể đi bằng dịch vụ ghe thuyền của các doanh nghiệp lữ hành hoặc thuê ghe của ngư dân đánh cá tại Nhơn Lý. Nếu xuất phát từ bãi biển Nhơn Lý thuyền sẽ đưa du khách qua Eo gió, đảo Yến chạy chừng 20 phút là du khách đặt chân lên đảo, còn đi từ cảng Quy Nhơn ra du khách mất khoảng hơn 1h là tới nơi.

Ấn tượng đầu tiên ở đây là nước biển gần đảo trong vắt, bạn có thể nhìn thấy những tầng san hô, tảng đá ngầm nằm dưới đáy rất đẹp, lạ mắt, những đàn cá đủ loại màu sắc sặc rỡ tung tăng bơi lội dưới làn nước trong suốt kỳ ảo. Xung quanh đảo những ghềnh đá lớn nhỏ chồng chất lên nhau, bạn phải vượt qua những tảng đá này mới leo dần lên được đỉnh.

Đứng ở Hòn Sẹo, du khách có thể nhìn bao quát được cả một vùng trời biển bao la. Bạn hãy mở căng lồng ngực, tha hồ tận hưởng luồng gió mát rượi của đại dương ban cho. Từ đảo nhìn vào bờ, bên tay trái là dãy Phương Mai đâm sầm ra biển, xa xa về phía tay phải là Eo gió, đảo Yến và những đồi cát vàng ươm chạy dài bất tận. Hòn Sẹo lý tưởng cho những ai thích loại hình du lịch khám phá, mạo hiểm. Ở đây bạn có thể cắm trại, vượt ghềnh, ngắm cảnh, câu cá, chế biến và thưởng thức những món ăn đặc sản vừa đánh bắt được.
Điêu thú vị khi đứng ở vị trí này du khách có thể thấy được từ Eo gió, đảo Yến và cả bán đảo phương Mai như đôi cánh tay khổng lồ ôm lấy vòng cung biển. Muốn ngắm cảnh Hòn Sẹo nên đi vào buổi Bình Minh hoặc buổi chiều là đẹp nhất, bởi bạn sẽ thấy được hoàng hôn và ráng chiều trên biển tuyệt đẹp. Nếu muốn ở lâu hơn để thả lưới và câu cá, bạn có thể đi vào buổi sáng, nên chuẩn bị vài chiếc cần câu và mồi, đôi khi may mắn, bạn sẽ câu được những chú cá lớn, rất thú vị.
Hoặc bạn cũng có thể với ngư dân trên biển có những chuyến trải nghiện đâm chình, săn cá, cùng với ngư dân chế biến những món hải sản tươi và thưởng thức ngay trên đảo thật là điều hết sức thú vị.

Khu vực này có nhiều ốc, hàu biển và đặc biệt là nhum biển (ngư dân gọi là nhím biển) nằm ẩn mình trong những khe đá. Nếu không quen và lần đầu tiên nhìn thấy, dễ có cảm giác “khiếp”, vì thân mình chứa đầy gai góc, đen nhánh, to và tròn như những quả cầu gai vì thân tròn có nhiều gai nhọn. Nhum biển được xếp vào loại hải sản quý, được người dân địa phương và các nhà hàng chế biến thành những món ăn ngon, nhiều chất dinh dưỡng.
Khi tham quan, thưởng ngoạn và khám phá sự hoang sơ kỳ thú của đảo hòn Sẹo du khách còn được trải nghiệm, khám phá các hòn đảo và danh thắng độc đáo của vùng ngày như: đồi cát Phương Mai, Eo gió, Đảo yến và một số hòn đảo phụ cận khác. 

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Kinh nghiệm du lịch đảo Cô Tô

Đảo ngọc Cô Tô là một trong những điểm đến thú vị ở miền Bắc, nơi đây được nhiều du khách lựa chọn là nơi nghỉ ngơi, khám phá trong ngày hè oi bức.

a. Đi lại:

Biển thanh bình.
- Từ Hà Nội, có các chuyến đi đi Cẩm Phả, Của Ông tại bến xe Mỹ Đình, bến xe Lương Yên. Giá 70.000 vnđ/lượt. Các hãng xe đi tốt nhất là Hoàng Long và Khumbu Viet Thanh (Bến xe Mỹ Đình, xe 45 chỗ đời mới, xuất phát 15’/chuyến với xe Hoàng Long và 30’/chuyến với xe Khumbo Việt Thanh). Có các chuyến khác liên tục của các hãng như Đức Phúc, Phúc Xuyên, Việt Thanh (loại xe 24 chỗ, đón khách thường xuyên). Thời gian từ Hà Nội tới Cửa Ông khoảng 4 tiếng. Khi đi Bus bạn hãy nói “cho tôi xuống ngã ba Vân Đồn”.

- Ngã Ba Vân Đồn là điểm xuống của hành trình Hà Nội – Cô Tô. Tới đây, bạn đón xe Bus địa phương đề biển “Cái Rồng” để đi Cảng Cái Rồng, giá xe Bus 5.000 vnđ/người (hoặc taxi), nếu đi Bus hãy yêu cầu cho xuống tại Bưu Điện Vân Đồn. Tới bưu điện Vân Đồn, còn khoảng 1.5km nữa để tới cảng Cái Rồng. Từ đây bạn có thể đi xe ôm hoặc đi bộ tới ngay cảng để nghỉ ngơi cho sáng hôm sau đi Cái Rồng bằng Tàu.

- Xe buýt Bãi Cháy - Vân đồn (tuyến số 1): (xuống tại ngã ba Cái Rồng): 5-10k/pax (15''/chuyến - đi lâu lắc - hết 1h30 - 1h45'' gì đó mới tới)
- Đi xe ôm tới bến tàu Cái Rồng: tầm 5-10k.

- Chuyến cuối lúc 5.30pm ở bến xe Lương Yên,đi xe Hòn Gai. 9.00pm đến Hòn Gai. Bắt xe đi Cửa Ông. 10.00pm đến Cửa Ông. Taxi đi Cái Rồng - Vân Đồn.

- Xe khách Hà Nội – Vân Đồn chạy chuyến cuối cùng lúc 5h chiều tại bến Lương Yên. Đồn Giá xe khách là 70k/người. Nhưng phải hỏi rõ trước khi đi, lúc có lúc không.Đi xe chất lượng cao không bị bán lại và chạy nhanh hơn. Nếu lỡ chuyến này thì có thể bắt xe Hà Nội - Cẩm Phả chạy 15’ một chuyến cho đến 5h30 chiều. Giá 50K. Sau đó đi tiếp xe bus Cẩm Phả - Cửa Ông, rồi xe ôm hoặc taxi về Vân Đồn.

- Tàu đi Cô Tô khởi hành lúc 6h30 sáng và 1h chiều tại cảng Cái Rồng – Vân Đồn, cứ đủ khách là chạy, đến Cô Tô tầm 3 tiếng. Giá 70k/người. Nếu muốn vác xe máy ra đảo thì 120k/xe (80k công chở + 40 công dỡ lên xuống). Sđt tàu khách: (033) 874118/ 0978 769 888/ 0912 910 190/ 0985 351 833 (a Quang)

- Có thêm tàu tăng cường của Hải quân nữa (6h sáng t2 ra đảo - 1h chiều t6 về Vân đồn). Tàu này chạy nhanh hơn

Note: Nếu muốn tới Cái Rồng để kịp chuyến tàu sáng ra đảo thì phải đến Bãi cháy trước 5 chiều hôm trước cho kịp chuyến xe buýt cuối cùng và nghỉ lại tại Cái rồng. Khu này cũng nhiều nhà nghỉ.
Bãi biển Hồng Vàn với bờ cát trắng trải dài và nước trong xanh.
- Đến Cô Tô, xe ôm từ cầu cảng Cô Tô về đến Nhà khách Uỷ ban là 5k/người. Taxi là 30k cho km đầu tiên. Lấy phòng nhà khách Ủy ban Côtô, phòng 302 là mát nhất.

- Đi lại, nếu đông người có thể chọn taxi (30k cho km đầu, 20k cho 2km tiếp theo, 10k cho những km còn lại, công chờ là 1k/1phút). Xe ôm thì đắt, ví dụ đi từ Nhà khách - Hải đăng cả đi về là 50k/người, hỏi thì đi Nhà khách – Vàn Chải cả đi + về + chờ là 100k/người, Nhà khách - Hồng Vàn cả đi + về + chờ là 90k/người. Lý tưởng nhất là thuê 1 cái xe máy (80k/ngày, tự túc xăng), nếu dẻo miệng thì mượn nhà hàng Uý Thanh Nếu thuê xe máy thì thà rằng mang xe lên đảoèxe đạp lượn lờ (free) tốt hơn (140k )

b. Chiều về:

2.- Tàu từ Cô Tô về Vân Đồn chạy hàng sáng lúc 6h30. Thỉnh thoảng có tàu về chiều lúc 1-1h30, thường là vào thứ 2, 4, 6 và chủ nhật. Tầm 4.30pm về Vân Đồn, bắt xe Móng Cái về Hà Nội.

- Muốn biết chiều CN có tàu về không, phải hỏi chiều Thứ 7 từ Vân Đồn có tàu ra không. Nếu có tàu ra thì sẽ có tàu về. Tàu ra phụ thuộc vào lượng khách/hàng hóa vận chuyển.

- Xe khách Vân Đồn – Hà Nội có chuyến 10h15 và 1h30. Chạy thẳng về Lương Yên, 70k/người, sđt (033) 874 804/ 0912 427 750.

Ai muốn đi Cô tô cũng nên chú ý: tránh đi vào những ngày lễ vì sẽ phải tranh nhau chỗ ngồi trên tàu và nguy cơ ở lại 1 ngày là rất cao nếu ko nhanh chân.

c. Tổng hợp Update di chuyển:

- Xe khách đi về tuyến thẳng Vân Đồn: ~140k. Chạy xe máy thì tầm 60k xăng.
- Tàu đi về: 140k.
- Gửi xe máy lên tàu: ~120k/xe/ 1 chiều ( 50-70k công chở + 40k công ở VD, 50k ở Cô tô xuống). => 240k/ gửi xe.
- Xe máy thuê tại Cô Tô giá 100-150.000 vnđ/ngày (chưa bao gồm xăng) Giá xăng 18.000 – 20.000 vnđ/lít.
- Có thể thuê xe lại của xe ôm trên đảo hoặc chở đi các điểm, xe chờ với giá từ 120 – 150.000 vnđ/xe
- Taxi tại Cô Tô (xe Zace, 7 chỗ) duy nhất trên đảo. A Thu 033.500500, 120.000 – 150.000 vnđ/lượt tham quan..

e. Tàu thuyền

- Tàu Biển Đông 2 (tàu sắt, to, phục vụ chủ yếu cho bộ đội và chuyên chở cán bộ); xuất bến Cái Rồng lúc 6h30 sáng thứ 2 hàng tuần, tới Cô Tô lúc 8h30’ (nhanh hơn gần 2 tiếng so với tàu thường). Tàu sẽ dừng tại càng Cô Tô và tiếp tục ra đảo Trần. Tàu về vào chiều thứ 6, lúc 15h, tới Vân Đồn lúc 17h. Giá 70.000 vnđ – 80.000 vnđ/khách.
- Đây là tàu lớn, sạch sẽ, độ an toàn cao, ít bị sóng, thích hợp cho người có sức khỏe yếu nhưng không tiện lợi về thời gian nếu bạn đi vào cuối tuần. Hợp cho người có thời gian dư giả.
- Các loại tàu khác (tàu gỗ, đăng kiểm 48) xuất bến Cái Rồng vào lúc 7h sáng vào các ngày thứ 2,4,6. Tàu về ngày 3,5,7,CN và lúc 13h30. Giá tàu 70.000 vnđ/người. Thời gian đi từ 3 – 4 tiếng phụ thuộc vào gió. Nên theo dõi thời tiết trong tháng để chọn ngày đi phù hợp.
- Để thuê tàu riêng đi Cô Tô: Tàu Sơn Trong, hợp đồng các tuyến đảo tại Bái Tử Long; 033.793125; 0983.793125; 0984.433896

3.Ăn nghỉ:

Biển đảo.
- Về ăn uống, thấy mọi người đi trước suggest Uý Thanh nên cứ ra đấy mà ăn thôi. Úy Thanh nằm chếch Nhà khách, giá cả tương đối ok. Nếu đi đông thì cần đặt trước để người ta chuẩn bị. SĐT là (033) 889 040.

- Sau khi ngắm bình minh lên chán, trên đường từ cầu cảng về thì ăn sáng bằng xôi khúc (2 nghìn) kèm bịch sữa đậu nành đá (1 nghìn), thì bắt đầu ra biển bơi. Nhóm khác thì phải bỏ 12 nghìn cho 1 bát phở không ngon lành gì trong quán. Bài học: bình dân người ta ăn gì thì mình ăn đấy.

- Có thể ở tại nhà khách Huyện ủy hoặc mang trại cắm trên bãi biển (cần xin phép trước).

- Đặt các bữa ăn tại bếp ăn của nhà khách.

- Nhà khách huyện ủy Cô Tô cách cảng tàu 600m. Đi bộ mất 10’, xe ôm 5.000/người. Sđt (033) 889 388/ 0912 658 659. Giá 100.000-120.000 vnđ/phòng. tiện nghi cơ bản. Không có nóng lạnh, có TV. Khách sạn có điện từ 18h – 23h. Do thiếu điện nên khó ngủ vào mùa hè. Đôi khi có muỗi, thú vị nhất là cô lễ tân thường xuyên vắng mặt. Đi lại bất kể giờ giấc, khách tự mở, đóng cửa. Phòng tầng 2 bắt đầu có view nhìn ra biển và khu vực cảng.

- Nhà nghỉ Mai Lan (sđt (033) 889 301) với vài phòng xập xệ, hơi bí, giá từ 120-150k. Ở đây có 1 phòng có điều hoà, nhưng sau 11h thì tắt.

- Gần sát bãi Vàn Chải có nhà nghỉ Minh Vượng (ko có sđt), mới xây nên trông khá khang trang, sạch sẽ, tươi tắn.

4. Chơi bời:

a. Điểm nhấn ở Cô Tô:

Một thoáng bình yên.
- Vàn Chải buổi sáng, thuỷ triều chưa lên, bãi cát đẹp
- Hồng Vàn: rất đẹp và nên thơ vào buổi chiều.
- Ngắm Cô Tô từ trên Hải đăng vào bình minh hoặc hoàng hôn
- Đi xe đạp ở Cô Tô
- BBQ bãi biển
- Thăm cảng Bắc Vàn
- Từ cầu cảng rẽ phải đi ngược lên ngắm bãi đá
- Ở Cô Tô cũng có internet nhé.

b. Hải đăng:

Hoàng hôn sắc màu trên bãi biển Vàn Chải
- Hải đăng nằm ở độ cao hơn một trăm mét so với mực nước biển, bên cạnh ngọn đèn chính còn có một ngọn đèn nhỏ hơn. Năng lượng dành cho hải đăng không phụ thuộc điện lưới hay điện máy nổ, mà được lấy từ năng lượng mặt trời, tích lũy trong một hệ thống ăcquy, để đảm bảo trong mọi điều kiện thời tiết thì hải đăng vẫn sáng.

- Có lẽ đây là một trong những ngọn hải đăng có tầm nhìn đẹp nhất, bởi đứng trên đỉnh núi giữa một hòn đảo, nên bốn phía là biển xanh, gần là núi, xa là đảo, xa hơn nữa là phía đất liền với những dãy núi uốn lượn

-Khi tham quan hải đăng, cần xin phép trưởng đồn để trèo lên ngọn hải đăng.

c. Bến Vàn Chải:

Cầu cảng đảo Thanh Lâm.
- Bến Vàn Chải là một cảng nước nông, bờ thoai thoải. Bãi có nhiều đá nhỏ, đầu và cuối bãi có những dải đá chạy ra tận biển, đáy có đá sỏi. Đoạn giữa bãi khá bằng phẳng, cát sạch.
- Có lẽ do có hai bãi Vàng Chải và Hồng Vàn đẹp quá rồi, nên cũng chẳng mấy ai tắm ở đây nữa.

d. Nghe nói từ nhà nghỉ Minh Vượng (cạnh bãi Vàn Chải), đi theo đường mòn về phía sau nhà; hoặc trèo ra sau bãi đá phía bên phải ở biển Vài Chải, sẽ gặp 1 bãi biển cực đẹp và hoang sơ và vắng, "đẹp nhất Cô Tô"

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Phu Song Sung - sừng sững giữa tầng mây

Những triền pơmu trăm tuổi ngày một lùi sâu vào rừng già, những tầng mây không thể kể cho chúng tôi nghe những huyền thoại ẩn trong từng bụi trúc lùn cỏ dại, chỉ còn đó một Phu Song Sung sừng sững cùng tuế nguyệt, chờ đón những bước chân ham thử thách, tìm kiếm mình trong những khó khăn, khắc nghiệt.

Chưa hề có thông tin, số liệu nào được thống kê cập nhật gần nhất về dãy núi ấy. Dãy Sà Phình - Pu Luông qua những biến động địa chất âm thầm đã tồn tại hai trong năm đỉnh núi cao nhất Việt Nam.

Khung cảnh nhìn từ Phu Song Sung
1. Men theo những chỉ dẫn rất chung chung của một số ít đoàn từng leo trước đó, chúng tôi tìm về dãy núi ấy. Dãy núi huyền ảo quanh năm ẩn hiện trong hai tầng mây phủ như gần ngay đó mà lại rất xa, trong huyền thoại về những cánh rừng bạt ngàn pơmu trăm năm tuổi. Đỉnh của nó theo tiếng Mông là Chung Chua Nhà, nghĩa là dãy núi có nhiều kim loại. Còn tên tiếng Kinh của nó như chúng tôi vẫn gọi là Phu Song Sung.

Từ xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, Yên Bái, những chiếc xe máy ì ạch nối nhau chạy qua 7km đường bùn lầy và đá hộc vào chân núi. Sau khi thuê hai anh em người Mông dẫn đường, sắp xếp đồ đạc và gửi lại xe máy, chúng tôi tiến vào lòng núi trong màn sương đặc quánh đọng thành giọt trên tán lá và những cơn gió bắc buốt lạnh. Nhiệt độ đo được ở chân núi khoảng 11 độ C.

So với đỉnh núi nổi tiếng Fanxipan, Phu Song Sung thấp hơn, vào khoảng 2.955m so với mực nước biển, nhưng độ khó thì hơn Fanxipan rất nhiều lần. Dù đoàn leo hầu hết có kinh nghiệm leo núi và được chuẩn bị kỹ lưỡng, chúng tôi vẫn không khỏi bất ngờ khi đối mặt với những con dốc đất dựng đứng chỉ sau 10 phút leo.

2. Dốc nối dốc, lại thêm không khí ẩm sương làm đất cứ trơn truội dưới đế giày. Qua vùng rừng thấp mù mịt, chúng tôi leo lên những triền núi thật sự cao vời vợi, gió thổi mạnh đến mức phải bám chặt tay vào cây bụi để khỏi bị bạt đi, những gờ đất sống trâu giữa hai miệng vực chỉ rộng 70cm…
Cảnh mặt trời mọc tại Phu Song Sung
Chúng tôi hẳn sẽ không thể quên được những cảm xúc biến chuyển từng giờ suốt hành trình leo của mình. Đó là cảm giác con người thật nhỏ bé giữa thiên nhiên hùng vĩ đến choáng ngợp. Chỉ từ lưng chừng núi, bóng các bạn leo tốp sau chỉ còn là những chấm nhỏ xanh đỏ giữa núi rừng, giữa màu vàng của đất và cây úa. Rồi cảm giác mỏi nhừ đến từng thớ thịt, mỗi hai phút leo lại phải dừng lại vài giây lấy hơi.

Tôi nhớ rất rõ cảm giác mệt mỏi đến nỗi khi nhìn xuống chân mình, bước nọ cách bước kia không quá 15cm, có nghĩa gần như lê bước theo đúng nghĩa đen. Nhưng chúng tôi cứ lầm lũi leo, lầm lũi nghỉ rồi lại tiếp tục. Nhưng tiếp đó lại là cảm giác khi leo vượt lên qua tầng sương mù và thấy một mảnh trời xanh ngắt thấp thoáng sau vạt nắng chiều phía đỉnh núi xa. Nhìn xuống con đường đất nhỏ ngoằn ngoèo mình đã đi qua rồi tự cho mình được mỉm cười trước khi cất bước leo nối sau balô bạn.

Một người bạn bị chuột rút phía sau lúc trời nhập nhoạng tối. Tôi cắm cúi đi vì nghĩ anh ổn. Nhưng nửa tiếng sau vẫn chưa thấy anh bắt kịp thì hơi lo. Phải di chuyển trong rừng vào ban đêm là điều tối kỵ. Tôi dừng lại giữa lưng chừng dốc và chụm tay gọi bạn thật to. Đến lần thứ tư mới thấy tiếng đáp lại. Một cảm giác vừa hồi hộp, vừa lo lắng lại vừa yên bình, khi biết bạn đã đứng dậy tiếp tục.

3. Hoàng hôn núi đang buông chậm, để lại bầu trời ám sắc hồng tím rực rỡ. Mọi ưu phiền của cuộc sống đang tan đi rất nhẹ.
Chúng tôi lại tiếp tục xuyên rừng trong đêm tối. Trăng thượng tuần và bầu trời sao như rắc vừng trên đầu soi đường. Khi ấy tôi mới thấy mình thật sự hòa mình vào thiên nhiên, như thể vươn tay lên là nắm được ánh trăng và sao trời. Gió vẫn thổi ngày một lớn. Sau hơn 1 giờ chúng tôi cũng đến nơi cắm trại ở độ cao 2.600m

Bên cạnh một dòng suối nhỏ róc rách, tốp đi trước bắt đầu dựng lều nhóm củi. Ngọn lửa và tiếng các bạn ríu rít đã xua tan hết mọi mỏi mệt của cả ngày dài leo núi. Đó là cảm giác ấm áp vô cùng. Chúng tôi cùng nhau nấu nướng, ăn uống, tán gẫu, tận hưởng bầu không khí và làn gió khoáng đạt trong lành, cảm giác tự do như mây, cách xa mọi tiện nghi, mọi bon chen vật chất đời thường.

Điều kỳ diệu nhất mà thiên nhiên mang lại cho chúng tôi là vào sáng sớm hôm sau. Đó là một biển mây phẳng lì tràn ra đến hết tầm mắt đang ửng hồng rực rỡ trong bình minh. Lớp mây xốp nhẹ như bông, ôm lấy những đỉnh núi. Chúng tôi tắm mình trong ánh nắng ban mai trong veo ngọt ngào, ngọn gió sớm thơm nức mùi hoa cỏ núi rừng và chúng tôi chỉ biết lặng người. Như thể im lặng thì cảnh sắc ấy sẽ còn mãi không phai mờ trong tâm trí.

Sau khi thu dọn bữa ăn sáng, chúng tôi tiếp tục leo 300m cuối cùng để lên đỉnh. Phần vì có một đêm ngon giấc, phần vì đích đã gần trước mặt ai cũng phấn chấn và thấy mình tràn trề sinh lực. Nhưng dốc cao vẫn tiếp dốc cao. Mất 2 giờ 15 phút chúng tôi mới lên đến đỉnh núi. Máy đo độ cao báo 2.955m, nhiệt độ là 9 độ C.

Nào, cùng mở rượu chúc nhau một năm mới thật nhiều điều hạnh phúc và ý nghĩa!

4. Nếu chặng leo lên đòi hỏi sức lực và sự hưng phấn, thì chặng leo về chỉ đòi hỏi chúng tôi một điều là lý trí. Vì dốc quá cao nên khi xuống áp lực dồn xuống mũi chân rất lớn, đầu gối và chân ai cũng mỏi nhừ đau đớn. Chúng tôi chỉ còn biết động viên, đỡ dìu nhau, chia nhau miếng bánh, thanh sôcôla, ngụm orezon rồi lại tiếp tục đi.

Có bạn vì quá mỏi đã phải xuống dốc bằng… "mông”, nghĩa là ngồi xuống và trượt xuống dốc. Càng xuống thấp trời càng nhiều sương mù và nhanh tối. Tinh thần và thể lực lại càng rệu rã, một số bạn đã phải gửi balô cho hai bạn người Mông dẫn đường để đi được nhanh hơn. Nhưng kia rồi, ánh đèn khu lán trại nơi chúng tôi gửi xe đã ẩn hiện trong màn sương trước mặt. Chúng tôi đã chinh phục thành công ngọn núi.

Mang về từ núi xa một cành hoa dại tím ngắt trong túi áo ngực, khi mở ra cánh hoa đã rơi rụng. Thổi chùm hoa ấy về phía núi sau lưng, thầm mong mình cũng như cánh hoa kia bay tung giữa đại ngàn nghìn năm hùng vĩ…

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Mê mẩn hoàng hôn trên phá Tam Giang

Tình cờ nghe mấy câu hát trong bài “Hoàng hôn trên phá Tam Giang” (thơ Mai Hữu Phước, nhạc Quỳnh Hợp), tôi bỗng thoáng nhớ cái vẻ đẹp đượm buồn của hoàng hôn trên phá Tam Giang...
“Phá Tam Giang chiều ráng đỏ
 Màu hoàng hôn buông chơi vơi
 Mênh mang mạn thuyền sóng vỗ
 Cánh chim tung trời về đâu?”
Tôi đến với Phá Tam Giang vào một buổi chiều hè cuối tháng 7, một chiều xanh trong, ít nắng nhưng không mưa.

Vài con thuyền nhỏ len lỏi qua những hàng rào cọc tre
Bầu trời gần đến nỗi hồ như chỉ cần với tay là chạm đến

Chiều hôm ấy, tôi nhận ra rằng, không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều nhà thơ, nhạc sĩ và nhiếp ảnh gia đã đưa hoàng hôn trên Phá Tam Giang vào những sáng tác của mình. Hoàng hôn trên Phá Tam Giang quả thật rất đẹp – một vẻ đẹp lãng mạn như đôi mắt của người thiếu nữ đang yêu, man mác như lời thơ của chàng thi sĩ thất tình, da diết như nỗi nhớ của mối tình đầu, mênh mang như biển cả và thân quen như con sông quê nhà.

Và chẳng hiểu vì sao, trong khoảnh khắc chiều tà ấy, tôi lại thấy chưa bao giờ thiên nhiên gần gũi và đầy cảm xúc đến thế. Bầu trời, đường chân trời, núi non, cánh đồng, tất cả trở nên gần đến nỗi hồ như chỉ cần với tay là chạm đến.

Gió lồng lộng như thể muốn len vào từng sợi tóc từng thớ thịt. Chút nắng cuối chiều sóng sánh trên mặt nước, từng giọt từng giọt lấp lánh trong đáy mắt. Sóng từng cơn từng cơn vỗ vào mạn thuyền, khi lăn tăn lặng lẽ, khi vồ vập dỗi hờn.


Và trước mắt tôi, là vài con thuyền nhỏ len lỏi qua những hàng rào cọc tre trên mặt nước rộng lớn mênh mông – hình ảnh biểu trưng cho vùng đầm phá rộng lớn này.

Bình yên. Quả thật, mẹ thiên nhiên luôn biết cách cứu rỗi tâm hồn những con người yêu quý người.

Mãi đắm say trong cảm xúc bình yên, tôi lạc vào một làng chài mang tên Thái Dương Hạ, một làng chài cổ xưa với những nét văn hóa thú vị.

Nếu như ai đó cho rằng đi lạc là điều rủi, thì ngược lại, tôi lại cảm thấy lạc vào Thái Dương Hạ lại là một điều may mắn trong hành trình của mình.

Ngoài việc được tận mắt nhìn thấy những nét sinh hoạt của một làng chài có lịch sự hàng trăm năm, tôi còn được chiêm ngưỡng những lăng mộ và đền thờ lộng lẫy uy nghi mà mình chưa bao giờ được thấy trước đó.

Cứ vài ba căn nhà, lại có những đền thờ họ tộc to lớn, giáp đầy gạch men và cẩm thạch, trạm trổ hoa văn rồng phụng. Hỏi thăm một người lớn tuổi trong làng, tôi được biết, với quan điểm “sống ở thác về”, một lăng mộ khang trang, một đền thờ họ lộng lẫy uy nghi, không chỉ thể hiện sự tôn kính đối với người đã khuất mà còn là niềm tự hào của những người sống.

Cụ cũng nhắc thêm, cứ 3 năm một lần, làng lại tổ chức Lễ hội Cầu Ngư rất long trọng vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch.
Đền thờ họ tộc trong làng Thái Dương Hạ
Tạm biệt cụ, tôi theo chân một người dân trong làng để về thành phố Huế. Rời khỏi làng Thái Dương Hạ cũng là lúc bóng tối dần ôm lấy đầm phá. Đâu đó trong tâm trí tôi vẫn hiển hiện ánh hoàng hôn trên Phá Tam Giang với những cảm xúc hoài niệm và bình yên khó tả.

Có lẽ, nếu phải tìm lại những khoảnh khắc bình yên nhất và những chiều hoàng hôn đẹp nhất trong cuộc đời mình, thì tôi sẽ không quên chiều hoàng hôn hôm ấy – hoàng hôn trên Phá Tam Giang.

Phá Tam Giang là một phá nằm trong hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, cách thành phố Huế 15km về phía Bắc, thuộc địa phận của ba huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà - tỉnh Thừa Thiên Huế.

Phá Tam Giang có độ sâu từ 2m đến 4m, có nơi sâu tới 7m, là nơi hội tụ của 3 con sông lớn là sông Ô Lâu, sông Hương và sông Bồ trước khi đổ ra biển qua cửa Thuận An.

Với diện tích 52 km², dài 24km và 22.000 ha mặt nước, Phá Tam Giang trở thành khu vực đầm phá nước lợ lớn nhất Đông Nam Á.